Giáo phận Bùi Chu

Giới Thiệu Tổng Quan Về Giáo Phận Bùi Chu



Giới Thiệu Tổng Quan Về Giáo Phận Bùi Chu

I.Bùi Chu cho đến bây giờ vẫn được coi là nơi đầu tiên đón nhận Tin Mừng tại Việt Nam:

“Gia-tô, dã lục, Lê Trang Tông, Nguyên Hoà nguyên niên, tam nguyệt nhật, Dương nhân danh Y-nê-xu tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thuỷ chi Trà Lũ âm dĩ Gia-tô tả đạo truyền giáo – Tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Ynêxu lén lút đến làng Trà Lũ huyện Giao Thuỷ, ngấm ngầm truyền tả đạo Giatô” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, tờ 5-6; cf. quyển XLI, tờ 24-25). Những dòng lịch sử tuy vắn gọn, nhưng lại là lời mở đầu rất đẹp cho dòng lịch sử Giáo hội Việt Nam và đặc biệt Giáo phận Bùi Chu.

Thêm vào trang sử của Giáo hội Việt Nam, trong số 117 vị thánh chứng nhân Việt Nam: có 26 vị sinh quán tại Bùi Chu và 18 vị phục vụ tại Bùi Chu, như vậy giáo phận Bùi Chu có 44 vị thánh đại diện 514 tôi tớ Chúa và khoảng 16.500 người đã chết để làm chứng cho Chúa thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong giáo phận Bùi Chu.

Từ năm 1640-1954, Bùi Chu là vùng truyền giáo, sau đó trở thành giáo phận có diện tích nhỏ nhất, nhưng có số giáo hữu đông nhất trong Giáo hội Việt Nam. Quá trình lịch sử này được tóm lược như sau:

Năm 1659, Toà Thánh chính thức thành lập hai giáo phận tại Việt Nam thì vùng đất Bùi Chu đã có đông giáo hữu thuộc giáo phận Đàng Ngoài do các thừa sai dòng Tên phục vụ, từ năm 1676 thêm các cha Đa Minh.

Ngày 19-2-1670, Đức cha P. Lambert de la Motte lập dòng Mến Thánh Giá và chủ lễ khấn dòng cho hai chị Phaolô và Anê tại họ Bắc Câu, xứ Kiên Lao. Cũng năm 1670, Kiên Lao là giáo xứ có đông giáo hữu nhất trong giáo phận Đàng Ngoài và cha Simon Kiên (nguyên quán) phục vụ rồi qua đời tại đây (1671-1673).

Năm 1679, giáo phận Đàng Ngoài được chia làm hai: Tây Đàng Ngoài do Đức cha Jacques de Bourges cai quản, giáo phận Đông Đàng Ngoài do Đức cha F. Deydier Phan cai quản. Suốt thời gian 1679-1848, toà giám mục thường được đặt tại Lục Thuỷ Hạ (nay là Liên Thuỷ), Trà Lũ, Trung Linh, Bùi Chu.
Năm 1848, Toà Thánh chia đôi giáo phận Đông Đàng Ngoài: một giữ tên cũ giáo phận Đông và một lấy tên giáo phận Trung do Đức cha Domingo Marti Gia coi sóc. Gọi là Trung vì nó nằm giữa giáo phận Đông và Tây. Giáo phận mới tuy hẹp đất nhưng số giáo hữu đông gấp ba lần giáo phận cũ. Giáo phận Đông có 45.000 tín hữu, giáo phận Trung có tới 139.000 tín hữu.

Năm 1858, Đức cha Valentin Berrio Ochoa Vinh và cha chính Emmanuel Rianõo Hoà dâng giáo phận cho Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và hứa sẽ xây dựng một nhà thờ khang trang để kính Đức Mẹ. Sau nhiều lần xây dựng, đền thánh Phú Nhai hiện nay (xức dầu thánh hiến trọng thể vào ngày 7-12-1933) là chứng tích tình Mẹ che chở giáo phận và lòng yêu mến của toàn thể con cái Bùi Chu đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Ngày 3-12-1924, tất cả các giáo phận ở Việt Nam đều được Toà Thánh đổi tên theo địa hạt hành chính nơi đặt toà giám mục, nên giáo phận Trung được đổi thành giáo phận Bùi Chu do Đức cha Pedro Munõagorri Trung coi sóc.

Năm 1936, Toà Thánh chia giáo phận Bùi Chu thành hai: một giữ tên cũ Bùi Chu do Đức cha Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn coi sóc, một lấy tên giáo phận Thái Bình.

Năm 1960, giáo phận tông toà Bùi Chu được nâng lên giáo phận chính toà do Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh coi sóc.

*Sắc chỉ thành lập

Việc thành lập giáo phận Bùi Chu đã được Toà Thánh chính thức ban sắc ba lần:

- Trước hết, ngày 5-9-1848 với Sắc lệnh Apostolatus Officium, Đức Giáo hoàng Piô IX công bố chia giáo phận Đông Đàng Ngoài thành hai: giáo phận Trung (Bùi Chu) gồm hai tỉnh Hưng Yên, Thái Bình và 2/3 tỉnh Nam Định. Phần còn lại mang tên cũ là giáo phận Đông.

- Ngày 3-12-1924, lễ Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng các xứ truyền giáo, thể theo nguyện vọng của các đấng bản quyền Đông Dương, qua Sắc lệnh Ordinarie Indosinensis, Đức Giáo hoàng Piô XI đã đổi danh xưng địa dư ra danh xưng địa phương: giáo phận Trung ra Bùi Chu, giáo phận Đông ra Hải Phòng, giáo phận Tây ra Hà Nội.

- Ngày 9-3-1936, một biến cố lịch sử vẻ vang, cũng Đức Giáo hoàng Piô XI đã ban Sắc Proecipuas inter Apostolicas quyết định chia giáo phận Bùi Chu, lấy lãnh thổ tỉnh Thái Bình và Hưng Yên để thành lập giáo phận Thái Bình. Phần còn lại vẫn giữ nguyên tên giáo phận Bùi Chu và được trao cho hàng giáo sĩ bản quốc coi sóc. Thế là lịch sử giáo phận Bùi Chu đã sang trang mới.

Các Đức cha coi sóc giáo phận Bùi Chu (x. Danh sách các giám mục GHCGVN, chương 15).

Đức Giám mục hiện nay: Sau 2 năm trống toà (1999-2001), hiện nay Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm, S.D.B., được Toà Thánh bổ nhiệm làm giám mục coi sóc giáo phận ngày 14-7-2001.

II. ĐỊA LÝ VÀ DÂN SỐ 1. Ranh giới:

Giáo phận Bùi Chu hiện nay nằm gọn trong tỉnh Nam Định (NĐ), bao gồm sáu huyện (Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng) và khu vực xứ Khoái Đồng thành phố NĐ. Phía Đông Bắc là giáo phận Thái Bình, phía Tây Bắc là sông Đào nối sông Hồng với sông Đáy phân ranh giới với giáo phận Hà Nội, và phía Tây Nam là giáo phận Phát Diệm và phía Đông Nam là biển Đông (vịnh Bắc Bộ). Diện tích 1.352km2.

Dân cư: tổng dân số địa phương trong 6 huyện và khu vực xứ Khoái Đồng thành phố Nam Định thuộc giáo phận Bùi Chu: 1.428.658 người. Số dân Công giáo 386.148, chiếm tỷ lệ khoảng 27%. Giáo phận thuộc khu vực đồng bằng Bắc bộ nên 100% là dân tộc Kinh.

Nghề nghiệp: khoảng 84% làm nông nghiệp, 5% làm muối và đi biển, 11% làm nghề thương mại, cơ khí, kỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp…

Những con sông cần nhớ: hai con sông Hồng và sông Đáy tựa như hai cánh tay khoẻ bao bọc lấy giáo phận Bùi Chu, cung cấp nước và phù sa cho những cánh đồng phì nhiêu màu mỡ. Nhờ thế tạo nên khu vực rất trù phú, dân cư đông đúc, sống hiền lành chất phác. Đây thật là môi trường thuận lợi cho việc đón nhận và phát triển Tin Mừng. Ngoài ra, con sông Ninh Cơ, một nhánh của sông Hồng, nằm giữa giáo phận, tuy không lớn bằng hai sông trên nhưng có vai trò rất quan trọng. Ngoài việc đưa nước và phù sa đến tất cả các huyện, nó còn là trục giao thông rất thuận tiện nữa. Những con sông trên đều in đậm dấu vết những cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng của các nhà truyền giáo.

2. Địa chỉ Toà giám mục:

Xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Đt: 0350 886118 – 887142 (ĐC).
Fax: 84 0350 887521
Email: tgmbc@hn.vnn.vn

3. Số giáo hạt và giáo xứ:

Gồm 13 giáo hạt với 129 giáo xứ (số liệu tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2002).

Hạt Báo Đáp:
7 giáo xứ, tổng số tín hữu: 12.093.

1. Gx. Báo Đáp. Sth: 5.250. Đc: Hồng Quang, Nam Trực, Nam Định (NĐ).
2. Gx. Khoái Đồng. Sth: 732. Đc: đường Lê Hồng Phong, NĐ.
3. Gx. Lã Điền. Sth: 685. Đc: Điền Xá, Nam Trực, NĐ.
4. Gx. Nam Dương. Sth: 1002. Đc: Nam Dương, Nam Trực, NĐ.
5. Gx. Phong Lộc. Sth: 487. Đc: Nam Phong, Nam Trực, NĐ.
6. Gx. Tân Bình (Cổ Ra). Sth: 2.952. Đc: Nam Hùng, Nam Trực, NĐ.
7. Gx. Trực Chính. Sth: 734. Đc: Nam Giang, Nam Trực, NĐ.

Hạt Bùi Chu:
10 giáo xứ, tổng số, tín hữu: 25.967.

8. Gx. Bùi Chu. Sth: 1.395. Đc: Xuân Ngọc, Xuân Trường, NĐ.
9. Gx. Cát Xuyên. Sth: 644. Đc: Xuân Thành, Xuân Trường, NĐ.
10. Gx. Hạc Châu. Sth: 742. Đc: Xuân Châu, Xuân Trường, NĐ.
11. Gx. Kiên Lao. Sth: 9.388. Đc: Xuân Tiến, Xuân Trường, NĐ.
12. Gx. Liên Thuỷ. Sth: 2.750. Đc: Xuân Ngọc, Xuân Trường, NĐ.
13. Gx. Lục Thuỷ. Sth: 1.857. Đc: Xuân Hồng, Xuân Trường, NĐ.
14. Gx. Ngọc Tiên. Sth: 1.275. Đc: Xuân Hồng, Xuân Trường, NĐ.
15. Gx. Thuỷ Nhai. Sth: 2.120. Đc: Xuân Thuỷ, Xuân Trường, NĐ.
16. Gx. Trung Linh. Sth: 1.846. Đc: Xuân Ngọc, Xuân Trường, NĐ.
17. Gx. Xuân Dương. Sth: 3.950. Đc: Xuân Hoà, Xuân Trường, NĐ.

Hạt Đại Đồng:
8 giáo xứ, tổng số tín hữu: 32.252

18. Gx. Đại Đồng. Sth: 11.270. Đc: Giao Lạc, Giao Thuỷ, NĐ.
19. Gx. Định Hải. Sth: 1.848. Đc: Hồng Thuận, Giao Thuỷ, NĐ.
20. Gx. Hà Cát. Sth: 1.680. Đc: Hồng Thuận, Giao Thuỷ, NĐ.
21. Gx. Hoành Đông. Sth: 3.335. Đc: Giao Thiện, Giao Thuỷ, NĐ.
22. Gx. Phú Ninh. Sth: 3.020. Đc: Giao Xuân, Giao Thuỷ, NĐ.
23. Gx. Phú Thọ. Sth: 4.144. Đc: Giao Thiện, Giao Thuỷ, NĐ.
24. Gx. Thiện Giáo. Sth: 2.563. Đc: Giao Hương, Giao Thuỷ, NĐ.
25. Gx. Thuận Thành. Sth: 3.658. Đc: Hồng Thuận, Giao Thuỷ, NĐ.

Hạt Kiên Chính:
12 giáo xứ, tổng số tín hữu: 36.496.

26. Gx. Kiên Chính. Sth: 2.681. Đc: Hải Chính, Hải Hậu, NĐ.
27. Gx. Hoà Định. Sth: 1.702. Đc: Hải Lý, Hải Hậu, NĐ.
28. Gx. Liên Phú. Sth: 5.170. Đc: Hải Tây, Hải Hậu, NĐ.
29. Gx. Long Châu. Sth: 2.560. Đc: Hải Hoà, Hải Hậu, NĐ.
30. Gx. Phương Chính. Sth: 4.520. Đc: Hải Triều, Hải Hậu, NĐ.
31. Gx. Quế Phương. Sth: 1.700. Đc: Hải Tây, Hải Hậu, NĐ.
32. Gx. Tang Điền. Sth: 1.811. Đc: Hải Chính, Hải Hậu, NĐ.
33. Gx. Thịnh Long. Sth: 2.836. Đc: Thịnh Long, Hải Hậu, NĐ.
34. Gx. Văn Lý. Sth: 1.739. Đc: Hải Lý, Hải Hậu, NĐ.
35. Gx. Xuân Đài. Sth: 3.442. Đc: Hải Hoà, Hải Hậu, NĐ.
36. Gx. Xuân Hà. Sth: 2.227. Đc: Hải Đông, Hải Hậu, NĐ.
37. Gx. Xương Điền. Sth: 6.108. Đc: Hải Lý, Hải Hậu, NĐ.

Hạt Lạc Đạo:
9 giáo xứ, tổng số tín hữu: 31.979.

38. Gx. Lạc Đạo. Sth: 7.311. Đc: Nghĩa Lạc, Nghĩa Hưng, NĐ.
39. Gx. Đài Môn. Sth: 1.812. Đc: Nghĩa Phú, Nghĩa Hưng, NĐ.
40. Gx. Đồng Liêu. Sth: 5.093. Đc: Nghĩa Lạc, Nghĩa Hưng, NĐ.
41. Gx. Đồng Nghĩa. Sth: 1.614. Đc: Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, NĐ.
42. Gx. Đồng Quỹ. Sth: 1.241. Đc: Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, NĐ.
43. Gx. Giáp Nghĩa. Sth: 1.234. Đc: Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, NĐ.
44. Gx. Giáp Phú. Sth: 4.440. Đc: Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, NĐ.
45. Gx. Bình Hải. Sth: 4.035. Đc: Nghĩa Phú, Nghĩa Hưng, NĐ.
46. Gx. Quần Lạc. Sth: 5.199. Đc: Nghĩa Phong, Nghĩa Hưng, NĐ.

Hạt Liễu Đề:
12 giáo xứ, tổng số tín hữu: 25.102.

47. Gx. Liễu Đề. Sth: 3.828. Đc: T.tr. Liễu Đề, Nghĩa Hưng, NĐ.
48. Gx. Cốc Thành. Sth: 728. Đc: Nghĩa Đồng, Nghĩa Hưng, NĐ.
49. Gx. Đại Đê. Sth: 1.835. Đc: Nghĩa Sơn, Nghĩa Hưng, NĐ.
50. Gx. Liêu Ngạn. Sth: 4.176. Đc: Nghĩa Sơn, Nghĩa Hưng, NĐ.
51. Gx. Chương Nghĩa. Sth: 425. Đc: Hoàng Nam, Nghĩa Hưng, NĐ.
52. Gx. Lý Nghĩa. Sth: 1.736. Đc: Nghĩa Châu, Nghĩa Hưng, NĐ.
53. Gx. Nam Trực. Sth: 1.000. Đc: Nam Tiến, Nam Trực, NĐ.
54. Gx. Ngoại Đông. Sth: 1.456. Đc: Nam Thái, Nam Trực, NĐ.
55. Gx. Quần Liêu. Sth: 5.462. Đc: Nghĩa Sơn, Nghĩa Hưng, NĐ.
56. Gx. Quỹ Đê. Sth: 1.088. Đc: Trực Mỹ, Trực Ninh, NĐ.
57. Gx. Quỹ Ngoại. Sth: 1.348. Đc: Trực Mỹ, Trực Ninh, NĐ.
58. Gx. Thạch Bi. Sth: 2.020. Đc: Nam Thái, Nam Trực, NĐ.

Hạt Ninh Cường:
9 giáo xứ, tổng số tín hữu: 26.117.

59. Gx. Ninh Cường. Sth: 7.618. Đc: Trực Phú, Trực Ninh, NĐ.
60. Gx. An Nghĩa. Sth: 1.549. Đc: Hải An, Hải Hậu, NĐ.
61. Gx. Đông Bình. Sth: 510. Đc: Trực Phú, Trực Ninh, NĐ.
62. Gx. Lác Môn. Sth: 3.158. Đc: Trực Hùng, Trực Ninh, NĐ.
63. Gx. An Đạo. Sth: 2.893. Đc: Hải An, Hải Hậu, NĐ.
64. Gx. Tân Lý. Sth: 4.452. Đc: Trực Hùng, Trực Ninh, NĐ.
65. Gx. Tân Phường. Sth: 987. Đc: Trực Hùng, Trực Ninh, NĐ.
66. Gx. Tây Đường. Sth: 2.633. Đc: Trực Phú, Trực Ninh, NĐ.
67. Gx. Tích Tín. Sth: 2.377. Đc: Trực Đại, Trực Ninh, NĐ.

Hạt Phú Nhai:
8 giáo xứ, tổng số tín hữu: 21.206.

68. Gx. Phú Nhai. Sth: 5.380. Đc: Xuân Phương, Xuân Trường, NĐ.
69. Gx. Cát Phú. Sth: 959. Đc: Xuân Phú, Xuân Trường, NĐ.
70. Gx. Kính Danh. Sth: 1.732 Đc: Xuân Trung, Xuân Trường, NĐ.
71. Gx. Lạc Thành. Sth: 2.814. Đc: Xuân Phú, Xuân Trường, NĐ.
72. Gx. An Phú. Sth: 2.110. Đc: Xuân Đài, Xuân Trường, NĐ.
73. Gx. Quần Cống. Sth: 4.120. Đc: Thọ Nghiệp, Xuân Trường, NĐ.
74. Gx. Thánh Thể. Sth: 2.307. Đc: Thọ Nghiệp, Xuân Trường, NĐ.
75. Gx. Vạn Lộc. Sth: 1.784. Đc: Xuân Phong, Xuân Trường, NĐ.

Hạt Quần Phương:
12 giáo xứ, tổng số tín hữu: 44.192.

76. Gx. Quần Phương. Sth: 5.500. Đc: Yên Định, Hải Hậu, NĐ.
77. Gx. Hai Giáp. Sth: 6.416. Đc: Hải Anh, Hải Hậu, NĐ.
78. Gx. Hải Nhuận. Sth: 2.778. Đc: Hải Lộc, Hải Hậu, NĐ.
79. Gx. Hưng Nghĩa. Sth: 3.100. Đc: Hải Hưng, Hải Hậu, NĐ.
80. Gx. Phạm Pháo. Sth : 7.465. Đc: Hải Minh, Hải Hậu, NĐ.
81. Gx. Phạm Rị. Sth: 2.417. Đc: Hải Trung, Hải Hậu, NĐ.
82. Gx. Phú Hải. Sth: 1.081. Đc: Hải Phúc, Hải Hậu, NĐ.
83. Gx. Giáp Nam. Sth: 1.868. Đc: Hải Phương, Hải Hậu, NĐ.
84. Gx. Tân Hoà. Sth: 1.466. Đc: Hải Minh, Hải Hậu, NĐ.
85. Gx. Triệu Thông. Sth: 1.962. Đc: Hải Bắc, Hải Hậu, NĐ.
86. Gx. Trung Thành. Sth: 6.731. Đc: Hải Vân, Hải Hậu, NĐ.
87. Gx. Xuân Dục. Sth: 3.408. Đc: Xuân Ninh, Xuân Trường, NĐ.

Hạt Quỹ Nhất:
12 giáo xứ, tổng số tín hữu: 45.645.

88. Gx. Quỹ Nhất. Sth: 6.650. Đc: Nghĩa Hoà, Nghĩa Hưng, NĐ.
89. Gx. Chỉ Thiện. Sth: 7.200. Đc: Nghĩa Thành, Nghĩa Hưng, NĐ.
90. Gx. Giáo Lạc. Sth: 4.034. Đc: Nghĩa Tân, Nghĩa Hưng, NĐ.
91. Gx. Nghĩa Dục. Sth: 5.859. Đc: Nghĩa Hải, Nghĩa Hưng, NĐ.
92. Gx. Ninh Hải. Sth: 2.562. Đc: Nghĩa Thắng, Nghĩa Hưng, NĐ.
93. Gx. Phú Giáo. Sth: 1.117. Đc: Nghĩa Hải, Nghĩa Hưng, NĐ.
94. Gx. Phúc Điền. Sth: 3.980. Đc: Nam Điền, Nghĩa Hưng, NĐ.
95. Gx. Phương Lạc. Sth: 2.820. Đc: Nghĩa Bình, Nghĩa Hưng, NĐ.
96. Gx. Quần Vinh. Sth: 2.543. Đc: Nghĩa Thắng, Nghĩa Hưng, NĐ.
97. Gx. Ân Phú. Sth: 2.340. Đc: Nghĩa Hải, Nghĩa Hưng, NĐ.
98. Gx. Văn Giáo. Sth: 4.350. Đc: Nghĩa Hùng, Nghĩa Hưng, NĐ.
99. Gx. Vinh Phú. Sth: 2.190. Đc : Nghĩa Lợi, Nghĩa Hưng, NĐ.

Hạt Thức Hoá:
7 giáo xứ, tổng số tín hữu: 21.522.

100. Gx. Thức Hoá. Sth: 5.101. Đc : Giao Thịnh, Giao Thuỷ, NĐ.
101. Gx. Hoành Nhị. Sth: 1.360. Đc: Giao Hà, Giao Thuỷ, NĐ.
102. Gx. Ngưỡng Nhân. Sth: 3.700. Đc: Giao Nhân, Giao Thuỷ, NĐ.
103. Gx. Phong Lâm. Sth: 1.104. Đc: Giao Phong, Giao Thuỷ, NĐ.
104. Gx. Quất Lâm. Sth: 2.526. Đc: Giao Lâm, Giao Thuỷ, NĐ.
105. Gx. Sa Châu. Sth: 5.748. Đc Giao Châu, Giao Thuỷ, NĐ.
106. Gx. Du Hiếu. Sth: 1.983. Đc: Giao Thịnh, Giao Thuỷ, NĐ.

Hạt Tương Nam:
10 giáo xứ, tổng số tín hữu: 20.230.

107. Gx. Tương Nam. Sth: 1.456. Đc: Nam Thanh, Nam Trực, NĐ.
108. Gx. Bách Tính. Sth: 798. Đc: Nam Hồng, Nam Trực, NĐ.
109. Gx. Dương A. Sth: 1.195. Đc: Nam Thắng, Nam Trực, NĐ.
110. Gx. Hưng Nhượng. Sth: 790. Đc: Nam Lợi, Nam Trực, NĐ.
111. Gx. Nam Hưng. Sth: 1.038. Đc: Nam Lợi, Nam Trực, NĐ.
112. Gx. Nam Lạng. Sth: 1.495. Đc: Trực Tuấn, Trực Ninh, NĐ.
113. Gx. Phú An. Sth: 3.080. Đc: Cát Thành, Trực Ninh, NĐ.
114. Gx. Trang Hậu. Sth: 1.350. Đc: Nam Hải, Nam Trực, NĐ.
115. Gx. Trung Lao. Sth: 7.632. Đc: Trung Đông, Trực Ninh, NĐ.
116. Gx. An Lãng. Sth: 1.396. Đc: Trực Chính, Trực Ninh, NĐ.

Hạt Tứ Trùng:
13 giáo xứ, tổng số tín hữu: 27.012.

117. Gx. Tứ Trùng. Sth: 2.042. Đc: Hải Tân, Hải Hậu, NĐ.
118. Gx. An Cư. Sth: 825. Đc: Hải Tân, Hải Hậu, NĐ.
119. Gx. Giáp Năm. Sth: 3.400. Đc: Hải Ninh, Hải Hậu, NĐ.
120. Gx. Lục Phương. Sth: 2.045. Đc: Hải Cường, Hải Hậu, NĐ.
121. Gx. Nam Phương. Sth: 817. Đc: Hải Sơn, Hải Hậu, NĐ.
122. Gx. Ninh Mỹ. Sth: 1.346. Đc : Hải Giang, Hải Hậu, NĐ.
123. Gx. Ninh Sa. Sth: 2.410. Đc: Hải Giang, Hải Hậu, NĐ.
124. Gx. Phúc Hải. Sth: 2.399. Đc: Hải Phong, Hải Hậu, NĐ.
125. Gx. Trùng Phương. Sth: 1.195. Đc: Hải Đường, Hải Hậu, NĐ.
126. Gx. Tư Khẩn. Sth: 960. Đc: Hải Châu, Hải Hậu, NĐ.
127. Gx. An Bài. Sth: 2.346. Đc: Thị trấn Cồn, Hải Hậu, NĐ.
128. Gx. Xuân Hoá. Sth: 1.064. Đc: Hải Xuân, Hải Hậu, NĐ.
129. Gx. Xuân Thuỷ. Sth: 6.163. Đc: Hải Xuân, Hải Hậu, NĐ.
III. CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ CỦA GIÁO PHẬN
Theo số liệu thống kê của giáo phận ngày 31-12-2007

Diện tích: 1.350 km2

Dân số: 1.428.658

Số dân Công giáo: 388.013

Linh mục: 159
Nữ tu: 589

Chủng sinh: 39

Chủng sinh dự: 124

Giáo lý viên: 3.255

Rửa tội: 7.787

Rước lễ: 7.554

Thêm sức: 7.039

Hôn phối: 4.208

IV. MỘT SỐ ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA GIÁO PHẬN
1. Các nhà thờ và đền thánh

Nhà thờ Chính toà Bùi Chu: Nhà thờ được xây dựng từ thời Đức cha Wenceslao Onate Thuận (1884), chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m. Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ này vẫn đứng vững với những cột gỗ lim và những đường nét hoa văn, thật xứng đáng là nhà thờ mẹ của các nhà thờ trong giáo phận.
Đền thánh Phú Nhai: với diện tích 2.160m2: dài 80m, rộng 27m, cao 30m, tháp cao 44m, được xây theo lối kiến trúc Gothic thật nguy nga tráng lệ. Đây là biểu tượng lòng yêu mến Đức Mẹ của con cái Bùi Chu.
Đền Các Thánh Tử Đạo Quần Phương: dành kính các thánh tử đạo nói chung và cách riêng các thánh tử đạo quê hương Bùi Chu. Đền thánh dài 60m, rộng 21m, cánh 37m, cao 18m, tháp 34m. Đền thánh như là một lời hứa âm thầm của con cháu Bùi Chu rằng: sẽ cương quyết tiếp bước cha ông, sống đức tin, làm chứng cho Tin Mừng giữa dòng đời.
Đền thánh Ninh Cường: nằm trên mảnh đất phù sa mầu mỡ cạnh bờ sông Ninh Cơ, nơi đây vinh dự được đón vị truyền giáo Inikhu theo Khâm Định Việt Sử đã ghi. Năm 1998, Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất đã xức dầu thánh hiến và nâng lên Đền thánh để cảm tạ và ghi ơn Đức Mẹ Mân Côi đã phù trợ giáo phận được bình an trải qua những ngày sóng gió bão táp.
Đền thánh Kiên LaoSa Châu : được Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất xức dầu thánh hiến nâng lên Đền thánh năm 1997. Đền thánh Kiên Lao dành riêng để kính Thánh Gia Thất, còn Đền thánh Sa Châu dành để kính Thánh Giuse Công Nhân

2. Thắng cảnh

Nằm trong giáo phận Bùi Chu có hai bãi biển khá đẹp: Bãi biển Hải Thịnh (thuộc xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu) nước rất sạch và trong, tương lai có thể trở thành cảng lớn cho tỉnh Nam Định. Vào những ngày hè, nơi đây thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước. Bãi biển Quất Lâm (ở xứ Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ) với bãi cát chạy dài theo rừng phi lao là một thắng cảnh đẹp.

One response

25 07 2011
Vicente Pham

Toi ten la: Pham van Manh Vicente, Bo ten: Pham Van Dan (nguoi lang Luc Thuy thuong keu Cau Me. Ong Noi ten : Pham van Moc giao dan Lucthuy. Toi co gang tim nguoi than cung ho o chung lang.

Lam sao tim duoc danh sach cua giao dan ho Pham ngu o lang luc thuy.
Ong Noi ten la PHAM VAN MOC, co bon nguoi con : Pham van Mui (Qua Doi), Bac gai lay Ong Trinh van Hao nguoi cung lang (qua doi ca Hai) Nguyen Thi Hong ( Qua Doi), va bo toi con ut : Pham van Dan tuc keu Cau Me.

Xin Thanh That Cam on

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s




Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: